Tel:   0989 791982 Hotline: 0989 791982 - 0918 681982 Email: tuan6282@gmail.com

HUYỆT ĐẶC ĐỊNH

12:10:00 08/10/2016

HUYỆT ĐẶC ĐỊNH

(HUYỆT THEO ĐẶC TÍNH NHẤT ĐỊNH)

 

Trong kinh huyệt có một số huyệt vị có tác dụng trị liệu đặc thù gọi là huyệt đặc định. Do có đặc tính nhất định, cho nên nó được quy nạp lại giới thiệu riêng, để trên lâm sàng phát huy tác dụng được tốt hơn. 


A. Nguyên huyệt 

Là chỗ chủ yếu của kinh khí trong các kinh qua lại, những huyệt này hầu hết nằm ở xung quanh khớp cổ tay, khớp cổ chân. Do khí của tạng phủ thông qua kinh lạc thường biểu hiện ở những huyệt này, vì thế nó và tạng phủ có quan hệ mật thiết vô cùng, mỗi tạng phủ có bệnh biến thường thường phản ứng ở nguyên huyệt của kinh đó. Vì thế cho nên người xưa đã có câu “Tạng phủ có bệnh, lấy mười hai nguyên”. Điều đó nói lên rằng nguyên huyệt có tác dụng to lớn trong việc chữa bệnh phủ tạng.

Huyệt vị và kinh của nguyên huyệt

Tên huyệt

Tên kinh

Tên huyệt

Tên kinh

Thái uyên

Phế kinh

Thần môn

Tâm kinh

Đại lăng

Tâm bào kinh

Thái bạch

Tỳ kinh

Thái khê

Thận kinh

Thái xung

Can kinh

Uyển cốt

Tiểu trường kinh

Dương trì

Tam tiêu kinh

Hợp cốc

Đại trường kinh

Kinh cốt

Bàng quang kinh

Khâu khư

Đởm kinh

Xung dương

Vị kinh

 

B. Lạc huyệt 

“Lạc” là ý nghĩa liên lạc, thông qua lạc huyệt có thể làm cho 12 kinh mạch có quan hệ biểu lý hai kinh, vì vậy gọi là lạc huyệt. Vì lạc huyệt có tác dụng liên quan, cho nên 12 kinh mạch mới thành một vòng đai kín, và dùng vào trị bệnh ở hai kinh biểu lý liên quan có bệnh. 14 kinh mạch đều có lạc huyệt, riêng Tỳ kinh có hai lạc huyệt, gộp lại có 15 lạc huyệt.

Huyệt vị và kinh của Lạc huyệt

Tên huyệt

Tên kinh

Tên huyệt

Tên kinh

Nội quan

Tâm bào kinh

Liệt khuyết

Phế kinh

Thông lý

Tâm kinh

Đại chung

Thận kinh

Công tôn

Tỳ kinh

Chi chính

Tiểu trường kinh

Lãi câu

Can kinh

Thiên lịch

Đại trường kinh

Ngoại quan

Tam tiêu kinh

Quang minh

Đởm kinh

Phi dương

Bàng quang kinh

Trường cường

Đốc mạch

Phong long

Vị kinh

Đại bao

Tỳ kinh

Cưu vỹ

Nhâm mạch

 

 

 

C. Bối du huyệt 

Là chỗ khí tạng phủ luân chuyển ở vùng lưng, vì vậy gọi là du huyệt. Tuy nó phân cách đều trục giữa ở lưng là 1,5 thốn trên đường bàng quang kinh, nhưng vì nó tương thông với các tạng phủ. Khi tạng phủ có bệnh, thường thường du huyệt tương ứng trên lưng sẽ xuất hiện cảm giác ấn đau hoặc tê tức; vì vậy chữa bệnh của Vị lấy huyệt Vị du, bệnh Thận lấy huyệt Thận du…. Bối du huyệt ngoài việc chữa bệnh tạng phủ ra, lại có tác dụng chữa các vị quản liên quan, như cai khan khiếu ở mắt, châm Can du có thể chữa được bệnh ở mắt.

Huyệt vị và tạng phủ tương thông của bối du huyệt

Tên huyệt

Tên kinh

Tên huyệt

Tên kinh

Tâm du

Tâm

Can du

Can

Tỳ du

Tỳ

Phế du

Phế

Thận du

Thận

Quyết âm du

Tâm bào

Đại trường du

Đại trường

Tiểu trường du

Tiểu trường

Tam tiêu du

Tam tiêu

vị du

Vị

Bàng quang du

Bàng quang

Đảm du

Đởm

 

D. Mộ huyệt 

“Mộ huyệt” có ý nghĩa là kết tụ lại, nơi khí của tạng phủ kết tụ ở ngực, bụng gọi là mộ huyệt, ý nghĩa lâm sàng của nó tương ứng với nó, nó có tác dụng đặc thù. Như bệnh dạ dày, lấy huyệt Trung quản, bệnh bàng quang lấy huyệt Trung cực. 

Huyệt vị và tạng phủ tương ứng của mộ huyệt

Tên huyệt

Tên tạng phủ

Tên huyệt

Tên tạng phủ

Cự khuyết

Tâm

Chiên trung

Tâm bào

Trung quản

Vị

Thạch môn

Tam tiêu

Quan nguyên

Tiểu trường

Trung cực

Bàng quang

Trung phủ

Phế

Kỳ môn

Can

Nhật nguyệt

Đởm

Chương môn

Tỳ

Kinh môn

Thận

Thiên khu

Đại trường

 

Đ. Khích huyệt 

“Khích” có nghĩa là lỗ trống không (theo “Tứ giác hiệu mã tân từ điển” thì khích là oán trách). Khích huyệt là nơi kinh khí tụ ở sâu, do đó gọi là khích huyệt. Khích huyệt phân phối ở tứ chi, phần lớn là ở phía dưới khuỷu và đầu gối. Mỗi kinh trong 12 kinh đều có một khích huyệt. Nó có thể chữa bệnh ở nơi đường kinh tuần hành và cả các loại bệnh ở tạng gốc sở thuộc, nhưng trên lâm sàng thường để chữa bệnh cấp tính, chứng đau, chứng viêm. Như đau ngực, tim lấy huyệt Khích môn; đau dạ dày lấy huyệt Lương khâu. 

Huyệt và kinh của khích huyệt

Tên huyệt

Tên kinh

Tên huyệt

Tên kinh

Khổng tối

Phế kinh

Khích môn

Tâm bào kinh

Âm khích

Tâm kinh

Lương khâu

Vị kinh

Ngoại khâu

Đởm kinh

Kinh môn

Bàng quang kinh

Ôn lưu

Đại trường kinh

Hội tông

Tam tiêu kinh

Dưỡng lão

Tiểu trường kinh

Địa cơ

Tỳ kinh

Trung đô

Can kinh

Thuỷ tuyền

Thận kinh

 

E. Bát hội huyệt 

Là nơi hội họp của tám thứ: tạng, phủ, khí, huyết, gân, mạch, xương, tuỷ. Nạn thứ 45 trong “Nạn Kinh” nói “Bệnh nhiệt trong, lấy khí huyết hội của cái đó” (Nhiệt bệnh tại nội giả, thủ kỳ hội chi khí huyết dã), ứng dụng lâm sàng, không giới hạn ở bệnh nhiệt, mà nặng về phía bệnh nội chứng. Thuộc về bệnh chứng của một số mặt, có thể sử dụng hội huyệt hữu quan. 

Bát hội huyệt

Tạng hội = Chương môn

Phủ hội = Trung quản

Khí hội = Chiên trung

Huyết hội = Cách du

Cân hội = Dương lăng tuyền

Mạch hội = Thái Uyên.

Cốt hội = Đại trữ

Tuỷ hội = Tuyệt cốt

 

 

F. Kinh mạch Ngũ du 

12 kinh mạch ở tứ chi từ khuỷu tay và đầu gối trở xuống đều có 5 loại huyệt đặc định là Tỉnh, Huỳnh, Du, Kinh, Hợp, gọi là ngũ du huyệt. Từ đầu chót của tứ chi hướng về khuỷu và đầu gối, mạch khí dàn ra từ nhỏ đến lớn, từ nông đến sâu, từ xa đến gần, do đó nói: “chỗ xuất ở Tỉnh, chỗ lưu là huỳnh, chỗ trú là Du, chỗ hành là Kinh, chỗ nhập là Hợp”. Theo thiên “Cửu châm thập nhị nguyên” sách Linh Khu, đó là lấy đặc điểm hình dung theo tên gọi của dòng nước chảy “Tỉnh” là nguồn từ dưới đất ra, hình dung về mặt khí nông, nhỏ, huyệt đó thường ở cạnh móng của ngón tay, chân. “Huỳnh” là nước thành dòng nhỏ, mạch khí hơi lớn, huyệt đó ở chỗ vùng ngón, bàn của tay chân. “Du” là vận chuyển, mạch khí đã rất thịnh, huyệt đó thường ở chỗ khớp cổ tay, cổ chân và phụ cận, “Kinh” là dòng nước lớn, mạch khí chảy và trú ở đó, huyệt thường ở vùng xung quanh khớp cổ tay, cổ chân và cẳng tay, cẳng chân. “Hợp” là xoáy hợp lại, mạch khí sâu lớn, huyệt thường ở xung quanh khớp khuỷu tay, đầu gối. 

Ứng dụng trên lâm sàng của ngũ du huyệt, sách Linh khu nói rằng: “bệnh tại tạng, lấy ở Tỉnh; bệnh biến ở màu sắc lấy ở Huỳnh; bệnh có lúc tăng, lúc giảm, lấy ở Du; bệnh biến ở tiếng (âm) lấy ở Kinh; mãn kinh mà có máu cũng như bệnh ở dạ dày và ăn uống không điều độ mà mắc bệnh, lấy ở Hợp”. Nạn thứ 68 của “Nạn kinh” lại nói thêm cho rõ hơn là: “Tỉnh huyệt chữa đầy tức dưới tâm, Huỳnh huyệt chữa mình nóng sốt, Du huyệt chữa mình nặng khớp đau, Kinh nguyệt chữa ho hắng, nóng rét, Hợp huyệt chữa nghịch khí mà tiết”. Đó là cách nói về ngũ du huyệt và các đặc điểm chủ trị của nó, chúng ta ghi nhận để tham khảo ứng dụng trên lâm sàng. 

Bảng ngũ du huyệt ở 12 kinh mạch 

Kinh mạch

Ngũ du

Ngũ tạng

Tỉnh

Huỳnh

Du

Kinh

Hợp

Phế

Thiếu thương

Ngư tế

Thái uyên

Kinh cừ

Xích trạch

Tâm bào

Trung xung

Lao cung

Đại lăng

Gian sử

Khúc trạch

Tâm

Thiếu xung

Thiếu phủ

Thần môn

Linh đạo

Thiếu hải

Tỳ

Ẩn bạch

Đại đô

Thái bạch

Thương khâu

Âm lăng tuyền

Can

Đại đôn

Hành gian

Thái xung

Trung phong

Khúc tuyền

Thận

Dũng tuyền

Nhiên cốc

Thái khê

Phục lưu

Âm cốc

Lục phủ

Tỉnh

Huỳnh

Du

Kinh

Hợp

Đại trường

Thương dương

Nhị gian

Tam gian

Dương khê

Khúc trì

Tam tiêu

Quan xung

Dịch môn

Trung chử

Chi câu

Thiên tỉnh

Tiểu trường

Thiếu trạch

Tiền cốc

Hậu khê

Dương cốc

Tiểu hải

Vị

Lệ đoài

Nội đình

Hãm cốc

Giải khê

Túc tam lý

Đởm

Khiếu âm

Hiệp khê

Lâm khấp

Dương phụ

Dương lăng
tuyền

Bàng quang

Chí âm

Thông cốc

Thúc cốt

Côn lôn

Ủy trung

 

G. Hợp huyệt

Hợp huyệt trong ngũ du huyệt đối với bệnh tạng phủ có tác dụng rất trọng yếu. Thiên “Tà khí tạng phủ bệnh hình”, sách “Linh Khu” nói: “Huỳnh, Du chữa bệnh ở ngoài kinh lạc, Hợp chữa bệnh ở trong tạng phủ”. Trị bệnh của lục phủ bằng Hợp huyệt, lại lấy hợp huyệt của túc tam dương kinh là chính. Vị, bàng quang, đởm ra ở túc tam dương mà đại trường, tiểu trường, tam tiêu tuy nhiên hợp trên ở thủ kinh, đồng thời cũng xuất hiện ở túc tam dương. Như thiên Bản luận sách “Linh Khu” đã nói: “Lục phủ đều ở túc tam dương, hợp ở trên tay”. Đó là do lục phủ ở trong vùng bụng, có quan hệ với túc kinh rất mật thiết, vì vậy ở trên túc tam dương kinh đều có các hợp huyệt đó. Vị hợp ở túc tam lý, đại trường hợp ở thượng cự hư, tiểu trường hợp ở hạ cư hự, đều thuộc túc dương minh vị kinh. 

Thiên “Bản luận” lại nói: “Đại trường, tiểu trường đều thuộc ở vị”, đó là nói công năng sinh lý trên dưới tương thừa, bàng quang hợp ở Ủy trung, tam tiêu hợp ở Ủy dương đều thuộc túc thái dương bàng quang kinh, là do thuỷ đạo ở tam tiêu xuất ra có quan hệ thuộc về bàng quang. Đởm hợp ở Dương lăng tuyền. Trên vừa kể là hạ hợp huyệt của bệnh lục phủ, hoặc gọi là “Phủ bệnh hợp luân”. 

Bảng lục phủ hạ hợp huyệt

Vị

= Túc tam lý

Trên Túc dương minh vị

Đại Trường

= Thượng cự hư

Trên Túc dương minh vị

Tiểu Trường

= Hạ cự hư

Trên Túc dương minh vị

Bàng Quang

= Ủy trung

Trên Túc thái dương bàng quang

Tam Tiêu

= Ủy dương

Trên Túc thái dương bàng quang

Đởm

= Dương lăng tuyền

Trên Túc thiếu dương đởm

 

H. Bát mạch giao hội huyệt 

Là 8 huyệt vị ở tứ chi thông với 8 mạch kỳ kinh. Kỳ kinh bát mạch tuy không tuần hành tất cả trên tứ chi, nhưng do chúng có quan hệ giao hội với 12 kinh mạch, cho nên huyệt vị ở vùng tứ chi đều có thông với kỳ kinh, trên mặt điều trị thích ứng, có quan hệ tới bệnh chứng của kỳ kinh. Bát mạch giao hội huyệt ở chi trên và chi dưới, khi ứng dụng thường phải phối hợp. 

Bảng phối hợp bát mạch giao hội huyệt và tác dụng của nó như sau

Bản kinh

Bát huyệt

Thông bát mạch

Chủ trị

Túc thái âm
Thủ quyết âm

Công tôn
Nội quan

Xung mạch
Âm duy

Tim, ngực, dạ dày.

Thủ thái dương
Túc thái dương

Hậu khê
Thân mạch

Đốc mạch
Dương kiểu mạch

Khoé mắt trong, gáy cổ, tai, vai và cánh tay trên, tiểu trường, bàng quang.

Túc thiếu dương
Thủ thiếu dương

Túc lâm khấp
Ngoại quan

Đới mạch
Dương duy mạch

Khóe mắt ngoài, sau tai, má, cổ, vai.

Thủ thái âm
Túc thiếu âm

Liệt khuyết
Chiếu hải

Nhâm mạch
Âm kiểu mạch

Hệ phế, hầu họng, ngực cách.

 

……………………………………………………………………………………..

Tài liệu: Châm cứu học (Viện Đông Y)

 

Đánh giá:

 

                   

5.5/5 (41 bình chọn)

 

Đang xử lý...